Quy định của pháp luật liên quan đến vụ Tịnh thất Bồng Lai

Công ty tư vấn pháp luật, dịch vụ tư vấn pháp luật, luật sư bào chữa hình sự

Quy định của pháp luật liên quan đến vụ Tịnh thất Bồng Lai

Thời gian vừa qua, người dân cả nước đặc biệt là cộng đồng mạng vô cùng bức xúc đối với hành vi xâm nhập bất hợp pháp đập phá đồ đạc, chửi bới và có dấu hiệu trộm cắp tài sản của nhóm người tấn công vào Tịnh thất Bồng Lai. Vậy theo quy định pháp luật, những nội dung liên quan đến vụ việc này được quy định như thế nào? Công ty Luật Phạm Nguyễn phân tích một số nội dung liên quan đến vụ việc để làm rõ thêm các vấn đề mà nhiều độc giả đang quan tâm.

luatphamnguyentinhthanbonglai - Quy định của pháp luật liên quan đến vụ Tịnh thất Bồng Lai

Vụ việc xảy ra tại Tịnh thất Bồng Lai

(nguồn ảnh: 24h.com.vn)

Thứ nhất, Tịnh thất Bồng Lai có phải chỗ ở hợp pháp không?

Căn cứ vào khoản 1 điều 12 Luật cư trú quy định: “Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.”

Dựa trên thông tin được đăng tải trên nhiều trang báo chính thống, và thực tế chưa có thông tin tịnh thất bị chính quyền xử hành chính do vi phạm việc cư trú bất hợp pháp. Trang báo msn.com đã trích dẫn thông tin về nội dung này như sau: “Công an địa phương bất ngờ kiểm tra hồ sơ lưu trú hộ bà Cao Thị Cúc (49 tuổi) có 10 người. Trong đó, một người chưa đăng ký tạm trú và không có ai tên Võ Thị Diễm My nơi đây

Trên cơ sở phân tích trên, có thể nhận định được đây là chỗ ở hợp pháp của các sư thầy sư cô.

Thứ hai, Nhóm người đập phá tịnh thất Bồng lai có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trên thực tế, gần 50 người tự ý xông vào “Tịnh thất bồng lai” để lục soát, có hành vi cố ý gây thương tích và có thông tin cho rằng tịnh thất bị mất tiền và tài sản có giá trị. Vậy hành vi của nhóm người này có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

Theo quy định tại Khoản 2 và 3 điều 22 Hiến pháp 2013 quy định:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.”

Về trình tự khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện Điều 195 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 195. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện

“1. Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.

Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

2. Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

3. Khi khám xét địa điểm phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và người chứng kiến.

4. Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến.

Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.

5. Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong.”

Đồng thời nhóm người này vi phạm có tổ chức có sự bàn bạc từ trước, đây được quy định là tình tiết tăng nặng. Căn cứ theo quy định điều 158 BLHS, hành vi của nhóm người này có các dấu hiệu cấu thành tội xâm phạm chỗ ở của người khác, có tình tiết tăng nặng là phạm tội có tổ chức.

Trường hợp phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm. Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ ba, người phụ nữ dùng miếng gạch men gây thương tích cho sư thầy có bị truy tố hay không?

Trong đoạn clip ghi lại hình ảnh người phụ nữ dùng miếng gạch men gây thương tích cho sư thầy một cách có chủ đích, hành vi có tính chất côn đồ, cố ý gây thương tích.

Tuy nhiên để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh cố ý gây thương tích thì phải xác định các nội dung như: có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, có tính chất côn đồ, tỷ lệ thương tật…

Điều 134 BLHS quy định về khung hình phạt đối với tội danh cố ý gây thương tích như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…………….
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;”

Thứ tư, trách nhiệm hình sự đối với hành vi lấy tài sản

Trong vụ việc này, nếu cơ quan điều tra xác minh được có hành vi lấy tài sản trong trường hợp này thì nhóm người này sẽ bị truy cứu về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ theo điều 172 BLHS 2015 quy định về khung hình phạt đối với tội danh này như sau:

1- Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; (b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; (b) Hành hung để tẩu thoát; (c) Tái phạm nguy hiểm; (d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ; (đ) (được bãi bỏ);
3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; (b) (được bãi bỏ); (c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; (b) (được bãi bỏ); (c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng“.
Trên đây là bài phân tích để quý độc giả tham khảo thêm về các quy định của pháp luật liên quan đến vụ việc đã xảy ra tại tịnh thất Bồng Lai. Kết quả vụ việc sẽ được xử lý cụ thể sau khi có kết luận của cơ quan điều tra.

Khách hàng cần Pham Nguyen Law sẵn sàng hỗ trợ.

Hotline: 0965 823 017

Email: anhtuyetlawyer@gmail.com

Kính chúc Quý Khách hàng luôn thành công.

Hãy cho ý kiến

PHAM NGUYEN LAW

Email của bạn được giữ bí mật.


*


Call Now ButtonGỌI LUẬT SƯ NGAY